Hiển thị các bài đăng có nhãn Tự học Phạn ngữ. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Tự học Phạn ngữ. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Hai, 1 tháng 7, 2013

Bài 1 - Mẫu Tự Phạn

Bài 1 - MẪU TỰ 

BẢNG MẪU TỰ TIẾNG PHẠN TRONG PHẦN PHIÊN ÂM

Tiếng Phạn (saṃskṛta) dùng mẫu tự Devanāgarī [1] để viết. Bảng mẫu tự tiếng Phạn gồm:
- 13 mẫu âm (còn gọi là nguyên âm), có ba loại mẫu âm: 
(1) Mẫu âm đơn giản, 
(2) Mẫu âm mang tính chất phụ âm, 
(3) Song mẫu âm (còn gọi là phức hợp âm). 
Còn thêm phân biệt trong mẫu âm có loại âm ngắn và âm dài.
- 33 phụ âm.
- 2 âm bổ sung là tùy âm và phóng xuất âm.

1-1 MẪU ÂM


Đơn mẫu âm

Phức âm

Âm ngắn
Âm dài

Đọc bằng yết hầu
Đọc bằng hàm trên
Đọc âm môi
Lưỡi uốn cong
Âm răng
  a
    i
    u
   ṛ
    ḷ
   ā
    ī
    ū
 

  e     ai
o   au

Ba loại mẫu âm                                   ngắn                dài
- Mẫu âm đơn giản                          a, i, u               ā, ī, ū
- Mẫu âm mang tính chất phụ âm    ṛ, ḷ                    ṝ, [] [2]
- Song mẫu âm (phức hợp âm)        e, ai, o, au

Sở dĩ phân chia rõ ràng như vậy, vì tùy tính chất của mẫu âm sẽ có những kết hợp thay đổi sau này. 


Theo thói quen sử dụng ký tự chữ quốc ngữ, những chữ như r, l thuộc phụ âm, nay thuộc mẫu âm (nguyên âm) chúng ta khó ghi nhận. Chẳng hạn đọc một câu: những mẫu âm khác a, ta không có ấn tượng rằng trong phần liệt kê đó có ṛ, ḷ. Bước đầu cần thuộc lòng mẫu âm để quen với một ngôn ngữ mới. 


Theo cách phát âm của Ấn Âu thì e, o thuộc nhị trùng âm[3]

Chúng ta lưu ý những điểm này, khi bắt đầu học một sinh ngữ khác.


CÁCH VIẾT

* nét ngang viết từ trái qua phải.
* nét thẳng đứng viết từ trên xuống dưới
- Viết từ trái qua phải, theo thứ tự như sau:

Cách viết mẫu âm:
a

ā

i

ī

u


ū

e

ai

o

au

 
 

 


CÁCH PHÁT ÂM

Về cách phát âm thật khó có một chú thích rõ ràng cho người Việt, vì hệ ngôn ngữ khác nhau, nhiều mẫu tự không có một cách đọc tương đương trong tiếng Việt. Chúng tôi cố gắng ghi nhận một số chú thích của các quyển Phạn văn đã có để tạm ghi cách phát âm cho chúng ta. 
Trong vấn đề tự học, chúng ta có thể đọc sách hiểu nhưng cần đọc ra tiếng thì khó mà chuẩn xác nếu không có cơ hội nghe nhiều bài về phát âm.
Trong sự hạn chế đó, chúng tôi chỉ xin giới thiệu cách học và ghi âm la tinh được các bản kinh Phạn hiện giờ còn tìm thấy, đã lên vi tính trong năm vừa qua.


Mẫu âm

Đọc bằng yết hầu
   a        phát âm như a, nghiêng về chút âm ơ        
   ā        phát âm như a nhưng dài gấp đôi a
Đọc bằng hàm trên 
    i         phát âm như i
     ī        phát âm như i nhưng dài gấp đôi i
Đọc âm môi
    u        phát âm như u
    ū       phát âm như u nhưng dài gấp đôi u
Lưỡi uốn cong 
   ṛ         phát âm như ri, nhưng chỉ đọc phớt chữ i, và rung trong cổ họng
  ṝ        phát âm như trên nhưng dài hơn
Âm răng
    ḷ       đọc như li, nhưng đọc phớt chữ i
Phức âm đều được phát âm dài
 e        phát âm như ê  
  ai       phát âm như ai
o       phát âm gần như ô
au      phát âm như au 


[1] Sở dĩ gọi là Devanāgarī thì có lẽ nāgarī là tên một thành phố, còn Deva là Trời hay Brahman. Có lẽ vì vậy có khi chúng ta gọi tiếng Sanskrit (saṃskṛta) là tiếng Phạm là vậy (Phạm thiên).
[2] Kí tự Devanāgarī đúng ra có 49 mẫu tự, nhưng vì chữ [ ] chưa từng thấy xuất hiện, nên trên thực tế chỉ có 48 chữ.

Thứ Ba, 25 tháng 6, 2013

Lời Ngỏ về bước đầu tự học 48 mẫu tự Phạn




Với sự xuất hiện những bản kinh Phạn có trong CD hiện nay, và với sự trợ giúp bài vở và chương trình nhập văn bản bằng chữ Deva trên vi tính của chú Đỗ Quốc Bảo, huynh đệ chúng tôi cùng nhau tự học và soạn lại cách viết mẫu tự Phạn, tạo sự dễ dàng cho những huynh đệ thích bước vào rừng Phạn văn.

Học xong 48 mẫu tự và những biến thể của nó, chúng ta có thể âm ra la tinh các văn bản ghi bằng chữ Deva, và có thể tra tự điển để hiểu nghĩa của từ, nhưng muốn hiểu và dịch được một bản văn thì cần biết thêm về ngữ pháp mới có thể dịch chính xác.

Bài soạn chúng tôi căn cứ theo quyển Giáo Trình Phạn Văn của Đỗ Bảo & Chí Cần, Phạn Ngữ Sơ Giai (梵語初階) của Đài Loan, cùng những quyển sách đọc được trong quá trình tham khảo. Phần bài tập căn cứ vào Đại tự điển Phạn-Hán và Tự Điển Phật Học của Chân Nguyên & Nguyễn Tường Bách.

Một từ Phạn có nghĩa thông thường và nghĩa trong kinh, chúng tôi chọn cả hai để chúng ta có thể hiểu được sự khó khăn của những công trình phiên dịch kinh điển lần đầu từ Phạn sang Hán. Và nếu dịch thẳng Phạn-Việt thì chắc bước đầu cũng nhiều khó khăn như thế, vì từ ngữ tương đương chưa có đủ.

Đây chỉ là bước khởi đầu trên đường vạn dặm đi vào cửa ngõ kinh điển Phạn văn Đại thừa còn để lại. Từ những ngày đầu khó khăn không đủ phương tiện thông tin như hiện nay, với những tấm gương các bậc danh tăng Tây Vực, đã trải qua muôn ngàn hiểm trở gian nguy, từ Bắc Ấn vào Trung nguyên đem theo những cuộn kinh điển nhằm phiên dịch và truyền bá, vẫn là niềm sách tấn vô bờ. Ngày nay chỉ với một dĩa CD đã gói gọn những bộ kinh Phạn, khi mở ra, chúng tôi thực sự bồi hồi xúc động với sự gìn giữ duy trì suốt hơn hai ngàn năm qua, để có được ngày hôm nay.
एवं मया श्रुतम्। Evaṃ mayā śrutam như vầy tôi nghe...
Kính ghi,

 Cuối Đông, 20-12-2006